Trong các kết quả xét nghiệm máu, chỉ số RBC là một trong những thông số quan trọng thường được biểu thị. RBC, viết tắt của cụm từ "Red Blood Cell", có nghĩa là số lượng hồng cầu - chỉ số này phản ánh tổng số lượng tế bào hồng cầu có trong máu. Hồng cầu là thành phần chủ yếu và chiếm số lượng lớn trong các tế bào máu.
1. RBC là gì và vai trò của hồng cầu
Hồng cầu có nhiệm vụ chính là vận chuyển oxy từ phổi đến các mô và đưa CO2 từ các mô trở về phổi để đào thải ra ngoài. Ngoài ra, hồng cầu còn tham gia vào quá trình duy trì và cân bằng độ pH trong máu, cũng như cung cấp khả năng duy trì sức đề kháng cho cơ thể. Bởi vậy, hồng cầu đóng vai trò quan trọng trong hoạt động sống hàng ngày của cơ thể. Chỉ số RBC cao hay thấp, tức là số lượng hồng cầu chênh lệch so với mức tiêu chuẩn, đều cho thấy những dấu hiệu bất thường từ cơ thể.

Tế bào hồng cầu
Hồng cầu được hình thành trong tủy xương dưới sự kiểm soát của erythropoietin (EPO) và có chu kỳ sống trung bình khoảng 90 - 120 ngày. Mỗi ngày, có đến từ 200 - 400 tỷ hồng cầu trong máu chết đi. Để tạo ra số lượng lớn hồng cầu khỏe mạnh thay thế, cơ thể cần được bổ sung đầy đủ các chất như Sắt, đường gluco, vitamin B6, B12 và acid folic. Thiếu bất kỳ chất nào kể trên cũng có thể khiến hồng cầu sinh ra thay đổi kích thước hoặc bị dị dạng.
2. Chỉ số RBC bình thường là bao nhiêu
Chỉ số hồng cầu thường nằm trong khoảng từ 4.2 - 5.9 triệu/cm3. Tương đương với số lượng hồng cầu được tính theo đơn vị quốc tế là 4.2 - 5.9x10^12 tế bào/l.
Giá trị chuẩn của chỉ số RBC khác nhau tùy theo giới tính và độ tuổi:
- Ở trẻ sơ sinh: 3.8 M/μl.
- Với nữ giới: 3.9 - 5.6 M/μl (hoặc Tera/L).
- Với nam giới: 4.5 - 6.5 M/μl (hoặc 4.2 – 5.8 Tera/L).
3. Ý nghĩa của chỉ số hồng cầu khi tăng hoặc giảm
Việc tăng hay giảm chỉ số RBC phản ánh tình trạng sức khỏe.
Khi chỉ số RBC tăng: Số lượng hồng cầu vượt mức trên, hay nói cách khác là chỉ số RBC cao hơn. Tình trạng này thường không xảy ra nhiều.
- RBC tăng có thể dẫn đến cô đặc máu trong trường hợp bị mất nước, nôn nhiều, đi ngoài liên tục. Nó cũng gặp ở các bệnh nhân mắc chứng tăng hồng cầu thực.
- Ngoài ra, số lượng hồng cầu tăng còn có thể là biểu hiện của một số bệnh lý như gây rối loạn tuần hoàn tim, phổi (bệnh tim bẩm sinh, hẹp động mạch phổi...) hoặc tình trạng thiếu oxy trong máu.
- Những người sống ở vùng núi cao hoặc vận động viên sử dụng doping thường có chỉ số hồng cầu tăng so với bình thường.
- Những người thừa cân, béo phì, mắc bệnh động mạch vành hoặc cao huyết áp có nguy cơ bị hồng cầu cao hơn.
Khi bị tăng hồng cầu, cơ thể có thể xuất hiện các triệu chứng như đau đầu, chóng mặt, đau bụng, da vùng môi hay cổ xanh tím và đỏ hơn nếu gặp thời tiết lạnh. Tình trạng tăng hồng cầu cũng có thể gây viêm các dây thần kinh, phì đại tim, gan to, lá lách có biểu hiện to và cứng nhẵn. Hồng cầu trong máu tăng cao khiến máu bị đặc quánh lại và dễ gây tắc nghẽn mạch máu, tăng nguy cơ đột quỵ nếu không được cải thiện.

Chỉ số RBC tăng hoặc giảm là dấu hiệu bất thường về sức khỏe
Khi chỉ số RBC giảm:
- Chỉ số RBC giảm so với mức chuẩn có thể là biểu hiện tình trạng thiếu máu, mất máu nguyên nhân do chảy máu tiêu hóa ở dạ dày hoặc tá tràng.
- Một số chẩn đoán cho thấy tình trạng ít hồng cầu là máu bị thiếu sắt, axit folic hay vitamin B12 do ăn uống không đủ dưỡng chất.
- Nhiều trường hợp số lượng hồng cầu giảm hoặc bị hủy hoại bởi tác động của một nhân tố đồng thời nào đó.
- Ở phụ nữ mang thai, người già, bệnh nhân bị suy tủy, thấp khớp cấp, thận, ung thư thường có dấu hiệu chỉ số RBC giảm dưới mức chuẩn.
Khi giảm hồng cầu ở mức độ nhẹ, triệu chứng thường không rõ ràng. Tuy nhiên, nếu số lượng tế bào hồng cầu giảm đáng kể, bệnh nhân có thể xuất hiện các triệu chứng như đau đầu thường xuyên, khó tập trung, tâm trạng thay đổi dễ cáu gắt, mệt mỏi nhất là sau khi vận động.
Trường hợp thiếu máu nặng có thể gặp khó thở, đau lưỡi, da nhợt nhạt, móng tay giòn và cảm giác choáng váng khi đang ngồi mà đứng lên đột ngột. Lượng hồng cầu trong cơ thể cần được giữ ở mức thích hợp: không quá thấp để đảm bảo cung cấp oxy nhưng cũng không quá cao làm cản trở sự tuần hoàn máu.
4. Khi nào cần xét nghiệm chỉ số RBC

Bác sĩ thường chỉ định làm công thức máu sau khi thăm khám lâm sàng
Phương pháp đơn giản và nhanh chóng để xác định chỉ số RBC chính là tiến hành xét nghiệm máu, thường là xét nghiệm tổng phân tích tế bào máu. Xét nghiệm chỉ số RBC được thực hiện cùng nhiều thông số liên quan khác.
Các bác sĩ thường chỉ định làm xét nghiệm này sau khi thăm khám lâm sàng, đặc biệt khi bạn đi khám sức khỏe tổng quát hoặc gặp các vấn đề bất thường về sức khỏe.
Việc tiến hành xét nghiệm chỉ số RBC giúp:
- Đánh giá tình trạng sức khỏe tổng quát của cơ thể.
- Phát hiện một số bệnh lý như thiếu máu, thiếu oxy, hẹp động mạch phổi, tim bẩm sinh, rối loạn tuần hoàn tim...
- Chẩn đoán bệnh khi có nghi ngờ về các bệnh liên quan đến hồng cầu hay các bệnh về dòng tủy.
- Theo dõi hiệu quả điều trị các bệnh liên quan đến máu hoặc các bệnh lý khác.
- Đánh giá tình trạng dinh dưỡng, giúp xác định sự thiếu hụt chất dinh dưỡng như sắt hoặc acid folic.
- Theo dõi tình trạng sức khỏe trong thai kỳ để đảm bảo sức khỏe cho cả mẹ và thai nhi.
Việc xét nghiệm RBC thường được thực hiện kèm theo các xét nghiệm máu khác để bác sĩ có cái nhìn tổng quan về sức khỏe, giúp chẩn đoán và điều trị chính xác hơn.
5. Các chỉ số đánh giá hồng cầu quan trọng khác
Bên cạnh chỉ số RBC, trong xét nghiệm tổng phân tích máu còn có các chỉ số khác giúp đánh giá hồng cầu:
- MCV (Mean Corpuscular Volume) và MCH (Mean Corpuscular Hemoglobin). Trong đó MCV để đánh giá kích thước hồng cầu lớn, nhỏ hay bình thường, còn MCH đánh giá màu sắc hồng cầu đậm, nhạt hay bình thường. Nếu chỉ số MCV, MCH thấp hơn bình thường, người bệnh có thể được chẩn đoán bệnh hồng cầu nhỏ, thường gặp trong người thiếu chất sắt, người mang gen Thalassemia... Ngược lại nếu MCV, MCH cao hơn bình thường nghĩa là hồng cầu to có thể chẩn đoán có bệnh lý về gan, nghiện rượu bia, thiếu vitamin B12, thiếu axit folic.
- HGB (Hemoglobin): Thể hiện lượng huyết sắc tố có trong máu. Huyết sắc tố là chất đạm trong hồng cầu giúp vận chuyển O2 từ phổi đến tế bào và vận chuyển CO2 từ tế bào về phổi. Khi HGB dưới mức chuẩn là biểu hiện để chẩn đoán thiếu máu.
- HCT (Hematocrit): Cho biết thể tích máu mà hồng cầu chiếm bao nhiêu phần trăm. Chỉ số HCT vượt mức có thể là biểu hiện của tình trạng thiếu nước hoặc có thể mắc một loại ung thư.
Xét nghiệm tổng phân tích máu là xét nghiệm thường quy nên được thực hiện thường xuyên để có thể biết tổng quát tình trạng sức khỏe, cũng như phát hiện sớm các bệnh. Sau khi phát hiện các bất thường, các xét nghiệm chuyên sâu hoặc phương pháp cận lâm sàng khác sẽ được chỉ định để xác định chính xác tình trạng bệnh. Do đó, xét nghiệm tổng quát máu định kỳ là điều cần thiết để đảm bảo sức khỏe ổn định.
Nguồn: Tổng hợp


