Điện tâm đồ

Dr VIP | 11/07/2023  

Điện tâm đồ (hay còn gọi là điện tim đồ) là một phương pháp để theo dõi hoạt động điện của tim rất phổ biến hiện nay, hầu như các cơ sở khám chữa bệnh đều sử dụng điện tâm đồ như một phương tiện chẩn đoán chính cho các bệnh lý tim mạch.

Vậy chúng ta cùng tìm hiểu rõ hơn về định nghĩa điện tâm đồ là gì cũng như các thông tin liên quan đến điện tâm đồ.

1. Điện tâm đồ là gì?

dien-tam-do

Điện tâm đồ (ECG)

Điện tâm đồ (tiếng Anh: Electrocardiogram, viết tắt là ECG), là phương pháp theo dõi hoạt động, tốc độ cũng như nhịp điệu của tim. Khi tim hoạt động, tim co bóp sẽ phát ra các biến thiên của dòng điện, lúc này điện tâm đồ là một đường cong có chức năng ghi lại các biến thiên đó. Thông qua đọc điện tim, ta có thể biết được khả năng tống máu của tim, biết được nhịp điệu và tốc độ của tim.

2. Đo điện tâm đồ để làm gì?

may-do-dien-tam-do

Máy đo điện tâm đồ

Xét nghiệm điện tâm đồ ghi lại các biến đổi của dòng điện dẫn truyền trong tim, từ đó giúp các bác sĩ chẩn đoán các bệnh lý như: rối loạn nhịp tim và rối loạn dẫn truyền trong tim, nhồi máu cơ tim, thiếu máu cơ tim, suy tim, tràn dịch màng ngoài tim, viêm màng ngoài tim cấp, tâm phế mạn, rối loạn các chất điện giải trong máu, dày thành cơ tim...

3. Cơ chế hoạt động của điện tâm đồ

Tim người có 4 buồng để chứa và bơm máu, 2 phần nhỏ ở phía trên gọi là tâm nhĩ, 2 phần dưới lớn hơn gọi là tâm thất.

Máu theo tĩnh mạch từ các cơ quan trong cơ thể trở về tâm nhĩ phải, máu từ phổi trở về tâm nhĩ trái. Tâm nhĩ trái bóp sẽ bơm máu vào tâm thất trái, tâm nhĩ phải đưa máu vào tâm thất phải. Sau đó tâm thất phải sẽ bóp để bơm máu theo động mạch lên phổi và tâm thất trái bóp để bơm máu xuống cơ quan cơ thể.

Tim có khả năng hoạt động đều đặn và thứ tự như thế là nhờ vào hệ thống các tế bào dẫn điện đặc biệt nằm trong cơ tim.

co-che-hoạt-dong-cua-tim

Cơ chế hoạt động của điện tâm đồ

Trong tâm nhĩ phải có nút xoang gồm các tế bào có khả năng phát ra xung điện. Xung điện này truyền ra các cơ xung quanh làm co bóp hai tâm nhĩ (tạo nên sóng P trên điện tâm đồ).

Dòng điện tiếp tục truyền theo một chuỗi tế bào đặc biệt đến nút nhĩ thất nằm gần vách liên thất, rồi theo chuỗi tế bào sợi Purkinje chạy dọc vách liên thất lan vào các cơ xung quanh (tạo ra loạt sóng QRS) làm hai tâm thất co bóp. Sau đó, các xung điện giảm đi, tâm thất giãn ra (tạo nên sóng T).

Tóm lại, cơ chế hoạt động điện tâm đồ như sau: các tế bào trong buồng tim sẽ tạo ra một xung điện khi tim hoạt động, những xung điện này đi qua tim theo một hệ thống dẫn truyền và được điện tâm đồ ghi lại thành các tín hiệu điện.

Một số bệnh như rối loạn nhịp tim, đau thắt ngực có thể được phát hiện sau khi tiến hành điện tâm đồ. Do đó, điện tâm đồ có vai trò rất quan trọng và thường xuyên được tiến hành trong bệnh viện.

4. Ý nghĩa các sóng trên điện tâm đồ

cac-song-tren-dien-tam-do

Các sóng trên điện tâm đồ

4.1. Sóng P

Bình thường sóng P ở:

  • D1, D2, V3, V4, V5, V6, aVF: bao giờ cũng dương
  • D3, aVL, V1, V2: đa số dương, có thể âm nhẹ, 2 pha
  • aVR: bao giờ cũng âm

Dù dương, âm hay 2 pha, sóng P có thể móc nhẹ hoặc chẻ đôi. Biên độ sóng P thường cao nhất ở D2. Sóng P được hình thành do quá trình khử cực tâm nhĩ. Sóng P bình thường có biên độ dưới 2mm (0.2 mmV), thời gian từ 0.08-0.11 giây. Khi sóng P tăng biên độ hoặc kéo dài thời gian có thể bệnh nhân đang có tình trạng tâm nhĩ lớn. Nếu tăng biên độ có thể bệnh nhân lớn nhĩ phải, nếu kéo dài thời gian khử cực có thể bệnh nhân lớn nhĩ trái.

4.2. Phức bộ QRS

Phức bộ QRS thể hiện quá trình khử cực của tâm thất, bình thường QRS kéo dài từ 0.06-0.1 giây. Tùy vào chiều khử cực và vị trí đặt điện cực mà trên giấy ghi sẽ cho thấy các phức bộ khác nhau.

  • Sóng Q: là sóng âm đầu tiên của phức bộ QRS, hình thành do quá trình khử cực vách liên thất. Ở người bình thường, sóng Q thường nhỏ và ngắn. Nếu sóng Q biên độ âm lớn và kéo dài có thể đang có tình trạng hoại tử cơ tim.
  • Sóng R là sóng dương đầu tiên của phức bộ, theo sau nó là sóng âm S. Đây là hai sóng hình thành do khử cực thất, có bản chất giống nhau.

4.3. Sóng T

Sóng T bình thường rộng, đỉnh tày, hai sườn không đối xứng, sườn lên thoải, sườn xuống dốc hơn. Bao giờ cũng dương ở D1, aVF, V3, V4, V5, V6, biên độ lớn nhất ở V3, V4 và bao giờ cũng âm ở aVR. Ở D2 đa số dương, một số nhỏ hai pha. Ở D3, aVL đa số là dương, một số hai pha hoặc âm. Ở V1, đa số là âm, một số nhỏ dương hay hai pha.

Sóng T là sóng theo sau phức bộ QRS, thể hiện quá trình tái cực muộn của hai tâm thất. Sóng T có vai trò quan trọng trong nhận định tình trạng thiếu máu cơ tim.

4.4. Sóng U

Bình thường trên điện tâm đồ không có sóng U, nếu có thì chỉ là sóng nhỏ sau sóng T. Trong một số bệnh lý như tăng huyết áp, bệnh lý mạch vành, bệnh van tim, bệnh lý cơ tim,... khi đo điện tâm đồ, có thể có sóng U đảo ngược hay nhô cao nhọn.

4.5. Khoảng PQ

Khoảng PQ là thời gian dẫn truyền từ nhĩ đến thất. Cách đo khoảng PQ là từ khởi điểm sóng P đến khởi điểm sóng Q hoặc sóng R khi không có Q. Ở người bình thường, khoảng PQ kéo dài từ 0.12-0.2 giây. Nếu PQ ngắn, có thể bệnh nhân có hội chứng kích thích sớm (Wolf-Parkinson-White), nếu PQ kéo dài thể hiện quá trình chậm dẫn truyền.

4.6. Đoạn ST

Đoạn ST là một đoạn thẳng đi từ điểm J tới khởi điểm sóng T. Đoạn ST có ý nghĩa là giai đoạn tái cực thất sớm, bình thường đoạn ST rất ít nằm chênh lệch lên hoặc xuống đường đẳng điện. Trong một số trường hợp bệnh lý, đoạn ST có thể chênh lên hoặc chênh xuống, do đó đoạn ST có nhiều giá trị trong chẩn đoán các bệnh lý tim mạch.

4.7. Đoạn QT

Đoạn QT là thời gian tâm thu điện học của tâm thất. Giá trị bình thường của QT phụ thuộc vào tần số tim. Nếu QT kéo dài bất thường, bệnh nhân có thể có nguy cơ loạn nhịp thất, đặc biệt là xoắn đỉnh.

5. Điện tâm đồ (ECG) trong chẩn đoán bệnh mạch vành

dien-tam-do-trong-benh-dong-mach-vanh

Điện tâm đồ trong chẩn đoán bệnh mạch vành

Bên cạnh những phương tiện hiện đại để chẩn đoán bệnh mạch vành, điện tâm đồ vẫn giữ vai trò quan trọng trong chẩn đoán bệnh mạch vành cấp và mạn tính, nhất là khi bệnh nhân đến những cơ sở y tế tuyến đầu.

Bệnh nhân thiếu máu cục bộ cơ tim thường có thay đổi điện tâm đồ. Tuy nhiên, điện tâm đồ bình thường không thể loại trừ hoàn toàn bệnh mạch vành.

Điện tâm đồ có thể biểu hiện vùng cơ tim nào bị tổn thương cũng như mức độ lan rộng của tổn thương, cung cấp bằng chứng giãn các buồng tim, những rối loạn nhịp tim hoặc bất thường hệ dẫn truyền trong tim, là những biến chứng thường liên quan đến bệnh mạch vành. Đồng thời, phương pháp chẩn đoán hình ảnh này còn có thể ghi nhận tình trạng thiếu máu cơ tim hoặc nhồi máu cơ tim trước đó.

Điện tâm đồ được xem là phương tiện chẩn đoán nhanh, có độ chính xác cao, chi phí thấp và phổ biến nhất. Nhờ đó, bệnh nhân được cứu sống kịp thời bằng cách dùng thuốc tan cục máu đông cấp cứu tại các cơ sở y tế không có đơn vị can thiệp mạch vành. Hoặc, có thể vận chuyển nhanh chóng bệnh nhân đến các cơ sở y tế tuyến trên có đơn vị can thiệp mạch vành để thông mạch vành khẩn cấp

Điện tâm đồ còn giúp đánh giá và theo dõi hiệu quả điều trị nội khoa hoặc sau can thiệp đặt stent mạch vành, phát hiện sớm tình trạng nhồi máu cơ tim tái phát.

6. Các lưu ý khi thực hiện điện tâm đồ

luu-y-do-dien-tam-do

Đo điện tâm đồ

  1. Người bệnh sẽ được nhân viên y tế giải thích về kỹ thuật và hướng dẫn các thủ tục trước khi tiến hành xét nghiệm;
  2. Trước khi thực hiện điện tâm đồ, người bệnh cần liệt kê đầy đủ triệu chứng chính và cả những triệu chứng đi kèm, các thông tin quan trọng (tiền sử bệnh, tiền sử gia đình), các yếu tố nguy cơ tim mạch (tăng huyết áp, đái tháo đường, đột quỵ, rối loạn nhịp tim) kể cả những lo lắng, căng thẳng hoặc những thay đổi gần đây trong cuộc sống, tất cả những thuốc, thực phẩm chức năng, vitamin đang dùng và liều lượng cũng cần khai báo với bác sĩ;
  3. Đo điện tim là xét nghiệm an toàn, không gây tổn hại đến sức khỏe, có thể làm bất kỳ thời điểm nào, không liên quan đến bữa ăn, không phải nhịn đói khi làm điện tâm đồ;
  4. Để tránh gây nhiễu cho các điện cực ghi điện tim, khi tiến hành đọc điện tim, người bệnh cần nằm yên tĩnh, tháo các vật dụng bằng kim loại ra khỏi cơ thể (đồng hồ, thắt lưng, chìa khóa...), cởi nút áo bộc lộ vùng ngực, hai tay đặt song song thân người, hai chân duỗi thẳng. Người bệnh cần thả lỏng và tuân thủ theo sự hướng dẫn của nhân viên y tế trong quá trình đo;
  5. Tùy thuộc vào diễn biến của bệnh mà bác sĩ sẽ quyết định có thể làm điện tâm đồ nhiều lần trong các khoảng thời gian khác nhau;
  6. Cách đọc điện tâm đồ rất phức tạp, đòi hỏi phải có chuyên môn về Tim mạch và được đào tạo bài bản. Dựa trên kết quả được ghi lại, bác sĩ chuyên khoa có thể xác định được có triệu chứng lâm sàng rối loạn tim gây ra hay không. Người bệnh có thể hiểu điện tâm đồ cơ bản qua phần kết luận của phiếu xét nghiệm, muốn hiểu được sâu hơn cần trao đổi với bác sĩ.

                                                                                                       Nguồn: Tổng hợp


BÀI VIẾT LIÊN QUAN

seca
Baxter

BÀI VIẾT MỚI NHẤT

>