Đo ECG (điện tâm đồ) là một quá trình quan trọng trong lĩnh vực y tế để kiểm tra hoạt động điện của tim. Đây là một kỹ thuật quan trọng giúp chẩn đoán và theo dõi nhiều bệnh lý tim mạch. Vậy chỉ số ECG bình thường là bao nhiêu? Trong bài viết này, chúng ta sẽ tìm hiểu về cách hoạt động của ECG, các thành phần quan trọng và các chỉ số bình thường mà máy điện tim ghi lại để giúp chúng ta hiểu sâu hơn về tình trạng tim mạch.
1. Đo ECG là gì?

Đo ECG
ECG là viết tắt của Electrocardiogram (điện tâm đồ) là một kỹ thuật ghi lại hoạt động điện học của tim dưới dạng đồ thị. Sự thay đổi của xung điện được phát hiện qua điện tâm đồ có thể là dấu hiệu của nhiều bệnh lý liên quan đến tim.
ECG được đo khi nghỉ ngơi, còn gọi là điện tim thường để phân biệt với các phương pháp đo điện tim khác (đo khi gắng sức hoặc đo Holter 24 giờ).
2. Cơ chế hoạt động của đo ECG
Tim người có 4 buồng để chứa và bơm máu, 2 phần nhỏ ở phía trên gọi là tâm nhĩ, 2 phần dưới lớn hơn gọi là tâm thất.
Máu theo tĩnh mạch từ các cơ quan trong cơ thể trở về tâm nhĩ phải, máu từ phổi trở về tâm nhĩ trái. Tâm nhĩ trái bóp sẽ bơm máu vào tâm thất trái, tâm nhĩ phải đưa máu vào tâm thất phải. Sau đó tâm thất phải sẽ bóp để bơm máu theo động mạch lên phổi và tâm thất trái bóp để bơm máu xuống cơ quan cơ thể. Tim có khả năng hoạt động đều đặn và thứ tự như thế là nhờ vào hệ thống các tế bào dẫn điện đặc biệt nằm trong cơ tim.
Trong tâm nhĩ phải có nút xoang gồm các tế bào có khả năng phát ra xung điện. Xung điện này truyền ra các cơ xung quanh làm co bóp hai tâm nhĩ (tạo nên sóng P trên điện tâm đồ). Sau có dòng điện tiếp tục truyền theo một chuỗi tế bào đặc biệt đến nút nhĩ thất nằm gần vách liên thất, rồi theo chuỗi tế bào sợi Purkinje chạy dọc vách liên thất lan vào các cơ xung quanh (tạo ra loạt sóng QRS) làm hai tâm thất co bóp. Sau đó, các xung điện giảm đi, tâm thất giãn ra (tạo nên sóng T).
Tóm lại, cơ chế hoạt động điện tâm đồ như sau: các tế bào trong buồng tim sẽ tạo ra một xung điện khi tim hoạt động, những xung điện này đi qua tim theo một hệ thống dẫn truyền và được điện tâm đồ ghi lại thành các tín hiệu điện. Một số bệnh như rối loạn nhịp tim, đau thắt ngực có thể được phát hiện sau khi tiến hành điện tâm đồ. Do đó, điện tâm đồ có vai trò rất quan trọng và thường xuyên được tiến hành trong bệnh viện.
3. Mục đích của đo ECG
Đo ECG có thể là một phần của kiểm tra sức khỏe tổng quát định kỳ hàng năm để tầm soát sức khỏe tim mạch:
- Tốc độ tim đập
- Nhịp điệu tim đập
- Đau tim
- Lưu lượng máu đến tim
- Cấu trúc tim
Điện tâm đồ được chỉ định ở những bệnh nhân có triệu chứng để chẩn đoán các bệnh lý:
- Rối loạn nhịp tim: nhịp tim nhanh, chậm hoặc không đều
- Phì đại cơ nhĩ, cơ thất
- Rối loạn dẫn truyền
- Nhồi máu cơ tim
- Bệnh tim thiếu máu cục bộ
- Tổn thương cơ tim, màng ngoài tim
- Rối loạn điện giải
- Điện tâm đồ được sử dụng để theo dõi điều trị ở những bệnh nhân tim mạch hoặc đang sử dụng thuốc có khả năng ảnh hưởng đến tim.
4. Ai cần đo ECG

Ai cần đo ECG?
Kỹ thuật đo ECG thường được chỉ định trong các trường hợp:
- Đối tượng có nguy cơ mắc bệnh tim mạch: trên 55 tuổi, đái tháo đường, tăng huyết áp, rối loạn mỡ máu, hút thuốc lá, tiền sử gia đình mắc bệnh tim mạch
- Những người có triệu chứng bệnh tim mạch: đau tức ngực, chóng mặt, ngất xỉu, khó thở
- Trước khi phẫu thuật để đánh giá sức khỏe tim
- Đang mắc bệnh tim mạch cần đánh giá và theo dõi hiệu quả điều trị
- Sau khi điều trị nhồi máu cơ tim, viêm nội tâm mạc
- Sau phẫu thuật tim, cấy ghép máy tạo nhịp tim
5. Chỉ số ECG bình thường

Đánh giá kết quả ECG bình thường hay không cần dựa trên đồ thị
Để đánh giá kết quả ECG, thông thường nên thực hiện theo các bước sau:
- Nhận xét chung: Nhịp tim, tần số, trục, tư thế và góc điện tim. Đặc biệt phân tích: sóng P, đoạn PR, phức bộ QRS, sóng Q, đoạn ST, sóng T, đoạn QT
- Kết luận: Dựa trên nhận xét để rút ra những hội chứng rồi xác định bệnh lý
5.1. Đặc điểm sóng P
- Nhìn rõ nhất ở D2, V1
- Có thể hai pha ở V1
- Rộng < 3 ô nhỏ (< 12 ms)
- Cao < 2,5 ô nhỏ (< 2,5 mV)
- Dương ở D1, D2, aVL, aVF, V3, V4, V5, V6.
- Âm ở aVR.
- Thay đổi ở D3, aVL, V1, V2.
5.2. Đoạn PR

Đoạn PR hiển thị trên kết quả điệm tâm đồ (ECG)
- PR (PQ): 12 – 20 ms
- Thời gian 0,12 – 0,20s.
- Dài: Block AV cấp I
- Ngắn: hội chứng tiền kích thích
5.3. Đặc điểm phức bộ QRS
- Rộng không quá 12 ms (3 ô nhỏ)
- Thời gian <0,10 s.
- Sokolow = (SV1 + RV5) < 35mm.
- R/S < 1 ở V1, V2; R/S > 1 ở V5,V6.
- Ở chuyển đạo trước tim phải (V1): S >> R
- Ở chuyển đạo trước tim trái (V5,6): cao không quá 25 mm
- Ở chuyển đạo trái có thể có sóng Q do khử cực vách liên thất nhưng: sâu không quá 2mm và rộng không quá 1mm.
5.4. Bất thường QRS

Điện tâm đồ biểu thị tình trạng QRS Block nhánh trái
- Rộng quá: block phân nhánh; nhánh, nhịp ngoại tâm thu...
- Cao quá: phì đại thất
- Dày thất phải: trục phải (>110 độ); R >>S ở V1, V2; S sâu ở V5-6
- Dày thất trái: trục trái (< 0 độ); R cao ở V5,6 (>= 25mm); S sâu ở V1-2; chỉ số Sokolow-Lyon (SV1 + RV5 hoặc RV6) >= 35mm.
5.5. Sóng Q
- Bình thường: hình thành do khử cực vách liên thất từ trái qua phải; <1mm rộng; < 2mm sâu.
- Bệnh lý: Tế bào cơ Tim bị chết (hoại tử) -> khử cực từ trong ra ngoài bề mặt tim tại vị trí hoại tử -> sóng Q bệnh lý vùng đối chiếu.
5.6. Đoạn ST
- ST bình thường là đẳng điện
- Thay đổi liên quan đến tổn thương mới cơ tim hoặc viêm màng ngoài tim; phì đại thất; thuốc digoxin
- Có thể chênh lên; chênh xuống...
- Các hình dạng khác nhau, các vị trí khác nhau cho phép chẩn đoán bệnh.
5.7. Sóng T

Hình ảnh sóng T cao, hẹp, đối xứng do tăng kali máu
- Không đối xứng: sườn lên thoai thoải, sườn xuống dốc hơn
- Đỉnh tròn.
- Dương ở D1, D2, aVL, V2, V3, V4, V5, V6.
- Âm ở aVR.
- Thay đổi ở D3, aVF, V1.
- Thường cùng chiều QRS
- Cao nhất ở V3-V4
- Không có tiêu chuẩn giới hạn độ cao.
5.8. Bất thường T
- Do bệnh động mạch vành
- Phì đại thất
- Block nhánh
- Digoxin...
5.9. Đoạn QT
- QT: 0,35 – 0,45 ms.
6. Máy đo ECG được phân loại như thế nào?
Máy đo ECG được phân theo các loại như sau:
6.1. Máy đo ECG phân theo số kênh
Bao gồm máy đo điện tim 1 kênh xách tay có khối lượng và kích thước nhỏ, khá tiện lợi. Hiện nay với sự gia tăng nhu cầu đánh giá điện tim nhanh chóng, máy đo điện tim được dùng phổ biến nhất là loại máy 3 kênh, máy đo 6 kênh và máy đo 12 kênh.
Máy điện tim 12 kênh ELI 230, thương hiệu Welch Allyn/Mỹ trang bị thuật toán diễn giải ECG độc đáo VERITAS. Đây là thuật toán được Mortara xây dựng và đã được Hiệp Hội Tim Mạch Mỹ dùng để kiểm chuẩn cho các máy điện tim các hãng khác. Thuật toán này sử dụng giới tính và các tiêu chí đánh giá khác để cung cấp thêm ý kiến cho việc diễn giải tín hiệu ECG.

Máy điện tim 12 kênh ELi 230, thương hiệu Welch Allyn/Mỹ
Những loại máy này dùng phổ biến trong các phòng khám và bệnh viện. Bên cạnh chức năng đo điện tim, các máy này được trang bị tích hợp thêm những thông số khác như nhịp đập của mạch, âm tim, áp suất mạch máu,...
6.2. Máy đo ECG phân theo nguồn điện cung cấp
Là những máy dùng pin sạc (dòng điện 1 chiều) hay dòng điện xoay chiều. Thường thì những loại máy đo điện tim dạng xách tay sẽ dùng nguồn điện 1 chiều có sạc cho thuận tiện.
Vì có kích thước nhỏ, trọng lượng thấp (khoảng 1,2kg kèm pin) cũng như thời gian sử dụng pin rất dài (8 tiếng đo liên tục), máy điện tim ELI 230 là 1 thiết bị cơ động đắc lực cho các bác sĩ, điều dưỡng mang theo bên mình tới khắp nơi mà không cảm thấy nặng nề hoặc phiền toái do phải cắm dây nguồn.
6.3. Máy đo ECG phân theo cách in tín hiệu điện tim ra giấy

Cách phân loại máy đo ECG theo tín hiệu điện tim ra giấy
Bao gồm 3 loại ghi như sau:
- Máy đo điện tim có đầu ghi mực trên băng giấy.
- Máy đo điện tim có đầu ghi quang.
- Máy đo điện tim có đầu ghi nhiệt.
Nguồn: Tổng hợp


