5 Cơ quan đích của tăng huyết áp chịu tổn thương nhiều nhất

Thanh Tâm | 26/10/2023  

Phần lớn tăng huyết áp (THA) ở người trưởng thành là không rõ nguyên nhân (THA nguyên phát), chỉ có khoảng 10% các trường hợp là có nguyên nhân (THA thứ phát). Cùng DrVip tìm hiểu về 5 cơ quan đích của bệnh tăng huyết áp chịu tổn thương nhiều nhất.

1. Chẩn đoán xác định tăng huyết áp

Trước khi đi vào phần tìm hiểu về 5 cơ quan đích của tăng huyết áp. Chúng ta cần biết chẩn đoán THA cần dựa vào:

  • Trị số huyết áp
  • Đánh giá cao nguy cơ tim mạch toàn thể thông qua tìm kiếm các yếu tố nguy cơ, tổn thương cơ quan đích, bệnh lý hoặc dấu chứng lâm sàng kèm theo
  • Xác định nguyên nhân thứ phát gây THA.

Quá trình chẩn đoán bao gồm các bước chính như sau:

  • Đo huyết áp nhiều lần
do-huyet-ap

Đo huyết áp kiểm tra thường xuyên

  • Khai thác tiền sử
  • Khám thực thể
  • Thực hiện các khám nghiệm cận lâm sàng cần thiết

Huyết áp lưu động cung cấp thông tin nhiều hơn huyết áp đo tại nhà hoặc phòng khám.

Ví dụ, huyết áp 24 giờ gồm cả huyết áp trung bình ban ngày (thường từ 7-22 giờ) và giá trị ban đêm và mức dao động huyết áp.

2. Đánh giá tổn thương cơ quan đích của tăng huyết áp

Bệnh tăng huyết áp là chứng bệnh phổ biến và tiềm ẩn nhiều nguy hiểm dẫn đến tử vong hoặc những biến chứng nặng nề. 5 cơ quan đích của tăng huyết áp thường chịu tổn thương nhiều nhất: tim, mạch máu, đáy mắt, thận, não.

2.1. Tổn thương ở tim

co-quan-dich-cua-tang-huyet-ap

Tăng huyết áp có thể gây tổn thương tim

Tim là cơ quan đầu tiên trong 5 cơ quan đích của tăng huyết áp chịu tổn thương.

Bệnh lý tăng huyết áp liên quan trực tiếp đến các tổn thương tim vậy nên người bệnh cần làm các kiểm tra sức khỏe tim mạch:

  • Điện tâm đồ cần được làm một cách thường quy cho tất cả các người bệnh tăng huyết áp nhằm phát hiện tình trạng phì đại thất trái, thiếu máu cục bộ cơ tim hay các rối loạn nhịp tim.
  • Siêu âm tim là một phương pháp thăm dò nhạy hơn trong việc đánh giá có hay không tình trạng phì đại thất trái. Ngoài ra, siêu âm tim giúp xác định hình thái, cấu trúc thất trái, chức năng tâm thu và chức năng tâm trương thất trái.

2.2. Tổn thương ở mạch máu

Cơ quan dích của tăng huyết áp bị tổn thương thứ hai là tổn thương mách máu.

Tổn thương mạch máu được đánh giá bằng siêu âm Doppler, biết được tình trạng hệ thống động mạch cảnh (đặc biệt trong việc phát hiện các mảng xơ vữa mạch cảnh không triệu chứng...), đánh giá hệ thống động mạch thận.

Biểu hiện sớm bao gồm tăng độ cứng và tăng xơ vữa thành mạch, muộn hơn là các bệnh lý vi mạch hoặc các bệnh mạch ngoại biên. Nguy hiểm nhất phải kể đến là hội chứng động mạch chủ cấp (ví dụ: Lóc tách thành ĐM chủ, tụ máu trong thành ĐM chủ, loét xuyên thành động mạch chủ….).

ton-thuong-o-mach-mau

Tổn thương mạch máu do tăng huyết áp

Đo chỉ số huyết áp cổ chân - cánh tay (ABI): ABI < 0,9 hoặc > 1,4 có thể coi như một chỉ điểm cho bệnh động mạch chi dưới. Đây cũng là phương pháp được đề xuất bởi hiệp hội tim mạch Châu  u và Việt Nam để đánh giá và sàng lọc bệnh động mạch chi dưới trong cộng đồng.

2.3. Tổn thương ở đáy mắt

Cơ quan dích của tăng huyết áp bị tổn thương được kể đến thứ ba là đáy mắt.

Tổn thương mắt do tăng huyết áp:

  • Soi đáy mắt nên thực hiện ở những trường hợp THA nặng. Các biến đổi nhẹ ở đáy mắt nhìn chung là không đặc hiệu ngoại trừ khi thấy ở những người trẻ tuổi.
  • Các tổn thương đáy mắt mức độ nặng như xuất huyết, xuất tiết, phù gai thị chỉ thấy ở các trường hợp THA mức độ nặng và được chứng minh có liên quan với tăng nguy cơ tim mạch.
  • Bệnh võng mạc tăng huyết áp mức độ vừa tới nặng tương ứng với độ III-IV được mô tả bởi sự xuất huyết, xuất tiết và phù gai thị. Trước đây bệnh võng mạc THA mức độ nặng được gọi là THA ác tính, mức độ vừa được gọi là THA tiến triển. Hai thuật ngữ này hiện nay ít dùng nên tránh sử dụng. Bệnh võng mạc tăng huyết áp mức độ vừa - nặng thường kèm theo xơ hoá cầu thận cấp do tăng huyết áp. Biểu hiện thường đau đầu, mất thị giác hoặc nhìn mờ, rối loạn ý thức. Các trường hợp nghiêm trọng có thể xuất hiện suy thận, suy tim, thiếu máu tan máu vi mạch và đông máu nội mạch rải rác (DIC).
benh-vong-mac

Võng mạc dễ bị tổn thương ở những người tăng huyết áp

Tổn thương võng mạc do tăng huyết áp:

  • Độ I: Động mạch võng mạc khúc khuỷu, xơ hoá.
  • Độ II: Bắt chéo động mạch, tĩnh mạch (dấu hiệu Salus-Gunn).
  • Độ III: Xuất huyết dạng đốm, xuất tiết võng mạc.
  • Độ IV: Phù gai thị.

2.4. Tổn thương ở thận

Cơ quan đích của tăng huyết áp bị tổn thương thứ tư là cơ quan thận.

Giai đoạn sớm có thể xuất hiện microalbumin niệu, sau đó là albumin đại thể.

Giai đoạn muộn hơn là tình trạng suy giảm chức năng lọc cầu thận. Người mắc bệnh lý tăng huyết áp luôn được tính mức tổn thương thận lọc cầu thận hoặc mức độ thanh thải creatinin một cách thường quy.

Cách tính mức lọc cầu thận theo Phương trình Cockcroft-Gault:

ct

Trong đó:

  • Tuổi: năm
  • Cân nặng: kg
  • Chiều cao: m
  • Scr: nồng độ creatinin (mg/dl)

2.5. Tổn thương ở não

Não là cơ quan thứ năm trong năm cơ quan đích của tăng huyết áp bị tổn thương nhiều nhất.

Trong cơn tăng huyết áp có thể gây ra nhiều tổn thương não nghiêm trọng:

  • Các biến chứng nặng nề là đột quỵ não (đột quỵ thiếu máu não hoặc đột quỵ xuất huyết não). Trong cơn THA cấp cứu có thể có tình trạng bệnh não do THA.
  • Chụp cắt lớp vi tính (CT) và đặc biệt là chụp cộng hưởng từ (MRI) sọ não có thể giúp phát hiện các tổn thương não như trên. Hạn chế lớn là các thăm dò chẩn đoán hình ảnh này hiện chưa sẵn có ở nhiều cơ sở y tế và giá thành còn tương đối cao.
  • Ở bệnh nhân cao tuổi có THA, có thể chỉ định các trắc nghiệm và thăm dò đánh giá nhận thức nhằm phát hiện sớm tình trạng suy giảm chức năng não bộ.
benh-ly-cua-tang-huyet-ap

Hai thể bệnh lý lâm sàng của tổn thương não do tăng huyết áp

3. Phân biệt tăng huyết áp cấp cứu và tăng huyết áp khẩn cấp

Sau khi biết được 5 cơ quan địch của tăng huyết áp tổn thương nhiều nhất, chúng ta cũng cần phân biệt tăng huyết áp cấp cứu và tăng huyết áp khẩn cấp.

Tăng huyết áp là bệnh lý thường gặp và là yếu tố nguy cơ của bệnh mạch vành, mạch máu não. Tăng huyết áp gồm 2 thể lâm sàng: tăng huyết áp cấp cứu và tăng huyết áp khẩn cấp. Trong đó, tăng huyết áp cấp cứu có khả năng để lại tổn thương nghiêm trọng nếu không được điều trị kịp thời và đúng cách.

Cơn tăng huyết áp được định nghĩa là khi huyết áp tăng lên nhanh chóng, nặng và nghiêm trọng (huyết áp tâm thu (HATT) > 180 mmHg và/hoặc huyết áp tâm trương (HATTr) > 120 mmHg). Tình trạng này có thể gặp ở những bệnh nhân tăng huyết áp mạn tính.

Tăng huyết áp gồm 2 thể lâm sàng: tăng huyết áp cấp cứu và tăng huyết áp khẩn cấp.

3.1. Tăng huyết áp cấp cứu là gì?

Tăng huyết áp cấp cứu là hiện tượng huyết áp tăng cao nghiêm trọng (HATT > 180 mmHg và/hoặc HATTr > 120 mmHg), có kèm theo tổn thương cơ quan đích mới xuất hiện, tiến triển hoặc nặng hơn. Khi gặp phải tình trạng này, bệnh nhân cần nhập viện khoa cấp cứu và điều trị bằng thuốc đường tĩnh mạch.

Các tổn thương cơ quan đích thường gặp là: xuất huyết nội sọ, xuất huyết dưới nhện, bệnh não tăng huyết áp, đột quỵ thiếu máu não, nhồi máu não, nhồi máu cơ tim cấp, suy thất trái cấp tính kèm phù phổi, đau ngực không ổn định, phình bóc tách động mạch chủ, suy thận cấp, viêm cầu thận cấp, sản giật, bệnh võng mạc ác tính…

3.2. Tăng huyết áp khẩn cấp là gì?

Tăng huyết áp khẩn cấp là hiện tượng huyết áp tăng cao (HATT > 180 mmHg và/hoặc HATTr > 120 mmHg), nhưng không có bằng chứng tổn thương cơ quan đích.

Tăng huyết áp khẩn cấp có thể xảy ra trên:

  • Bệnh nhân tăng huyết áp nguyên phát hoặc thứ phát nặng chưa có biến chứng;
  • Bệnh nhân sau phẫu thuật;
  • Bệnh nhân tăng huyết áp với chảy máu cam nặng;
  • Do ngưng thuốc điều trị huyết áp đột ngột hoặc không tuân thủ điều trị
  • Do lo lắng, hốt hoảng, đau, và có thể có một số loại thuốc gây cơn tăng huyết áp.
  • Bệnh nhân tăng huyết áp khẩn cấp có khả năng được điều trị ngoại trú và có thể điều trị bằng thuốc uống tích cực.

4. Phương pháp xử trí tăng huyết áp cấp cứu và khẩn cấp

4.1. Phương pháp xử trí tăng huyết áp cấp cứu

Nếu có nghi ngờ về mặt lâm sàng, cần bắt đầu điều trị ngay mà không chờ kết quả xét nghiệm. Phương pháp điều trị tăng huyết áp cấp cứu tùy thuộc vào loại tổn thương các cơ quan đích nào, ranh giới và mức độ ra sao.

Mục tiêu của bác sĩ khi điều trị tăng huyết áp cấp cứu là hạ huyết áp tâm thu không quá 25% trong khoảng 1 giờ đầu, nếu ổn định thì giảm xuống 160/100 – 110 mmHg trong 2 – 6 giờ tiếp theo, thận trọng hạ huyết áp về bình thường sau 24 – 48 giờ.

Trong những trường hợp sau, cần có chỉ định riêng biệt:

Bệnh nhân bóc tách động mạch chủ: HATT cần hạ xuống < 120 mmHg trong giờ đầu.

  • Bệnh nhân có tiền sản giật, sản giật; bệnh nhân có cơn tăng huyết áp do u tủy thượng thận: HATT cần giảm xuống < 140 mmHg trong giờ đầu.
  • Bệnh nhân nhồi máu não cấp trong vòng 72h có thể không dùng thuốc hạ áp trừ khi: huyết áp > 220/110 mmHg nên hạ huyết áp không quá 15% trong khoảng 24h đầu tiên; hoặc cần dùng thuốc tiêu sợi huyết nên hạ huyết áp < 185/110 mmHg trước truyền tiêu sợi huyết và duy trì huyết áp < 180/105 mmHg trong 24h đầu tiên sau truyền tiêu sợi huyết.
  • Bệnh nhân nhồi máu não ≥ 72h: Nếu bệnh nhân được điều trị hạ áp trước đó thì mục tiêu huyết áp < 130/80 mmHg. Bệnh nhân chưa được điều trị hạ áp trước đó: huyết áp ≥ 140/90 mmHg điều trị mục tiêu < 130/80 mmHg, nếu chưa điều trị mà huyết áp < 140/90 mmHg thì không điều trị.
  • Bệnh nhân xuất huyết nội sọ < 6h: Nếu huyết áp > 220 mmHg thì dùng thuốc hạ áp truyền tĩnh mạch và theo dõi sát. Nếu huyết áp 150 – 220 mmHg thì hạ huyết áp đến 140 mmHg là an toàn và có thể có hiệu quả cải thiện chức năng. Không được hạ huyết áp < 140 mmHg.      
  • Kiểm soát huyết áp tốt nhất là bằng thuốc tiêm truyền tĩnh mạch, vì dễ dàng điều chỉnh liều và tránh hạ quá mức. Nên lựa chọn thuốc có tác dụng nhanh, ngắn, hiệu lực mạnh, hồi phục nhanh, ít tác dụng phụ và nên có sẵn để thuận lợi cho quá trình chuyển đổi thuốc khi ra viện.
  • Một số thuốc truyền tĩnh mạch thường được dùng hiện nay: Sodium nitroprusside, nicardipine, nitroglycerine, labetalol, hydralazine, esmolol, enalaprilat, fenoldopam, phentolamine…
  • Ngoài việc xác định các cơ quan đích bị tổn thương và các can thiệp điều trị đặc biệt, việc xác định và xử lý những yếu tố thúc đẩy làm tình trạng tăng huyết áp nặng thêm như đau, lo lắng, sử dụng thuốc kích thích (như amphetamine, cocaine…) là rất cần thiết.
  • Bên cạnh việc tìm các yếu tố thúc đẩy, chẩn đoán tìm nguyên nhân gây tăng huyết áp và xử lý nguyên nhân cũng không kém phần quan trọng. Người ta nhận thấy có một tỷ lệ bệnh nhân tăng huyết áp cấp cứu có nguyên nhân thứ phát gây tăng huyết áp.

Tóm lại, tăng huyết áp cấp cứu là tình trạng cần được chẩn đoán và hạ áp ngay lập tức. Sử dụng những loại thuốc phù hợp với từng bệnh cảnh lâm sàng cụ thể, theo sự chỉ định của bác sĩ nhằm giảm tối thiểu các biến chứng nặng và đe dọa.

Nếu huyết áp của bệnh nhân > 180/120mmHg và có các triệu chứng liên quan đến tổn thương cơ quan đích như tê bì/yếu liệt chi, suy giảm ý thức, nói khó, đau ngực, khó thở, đau lưng, nhìn mờ, buồn nôn hoặc nôn, đó được coi là tình trạng tăng huyết áp cấp cứu.

Lúc này, cần gọi cấp cứu ngay để bệnh nhân nhận được sự chăm sóc y tế kịp thời, tránh tổn thương các cơ quan nghiêm trọng đe dọa tính mạng. Khi được điều trị nhanh và đúng cách, bệnh nhân sẽ có tiên lượng tốt.

Các kiến thức cơ bản này đặc biệt cần thiết đối với người bệnh cũng như người thân để nhận diện cơn tăng huyết áp cấp cứu kịp thời, biết cách xử lý khi tăng huyết áp cấp cứu xảy ra, từ đó được điều trị đúng cách, tránh nguy hiểm đến tính mạng.

4.2. Phương pháp xử trí tăng huyết áp khẩn cấp

thuoc-ha-huyet-ap

Phương pháp điều trị tăng huyết áp khẩn cấp là dùng thuốc hạ huyết áp từ từ trong 24-48 giờ

Phương pháp điều trị tăng huyết áp khẩn cấp phổ biến là dùng thuốc uống và hạ huyết áp từ từ trong 24 – 48 giờ. Sở dĩ phải hạ huyết áp từ từ vì hiện không có bằng chứng về lợi ích trong việc hạ nhanh huyết áp ở những bệnh nhân không có dấu hiệu tổn thương cơ quan đích. Ngược lại, việc hạ huyết áp quá nhanh, đột ngột còn làm giảm tưới máu, từ đó gây tổn thương cơ quan đích, chẳng hạn như thiếu máu não hoặc thiếu máu cục bộ cơ tim.

Trong thực hành lâm sàng, việc dùng thuốc nifedipine nhỏ dưới lưỡi để hạ áp trong tăng huyết áp khẩn cấp đã không còn được khuyến cáo. Nguyên nhân là nó có thể gây hạ huyết áp nhanh, nghiêm trọng, là căn nguyên khởi phát các biến cố thiếu máu não, thiếu máu cơ tim.

Nguồn: Tổng hợp


BÀI VIẾT LIÊN QUAN

seca
Baxter

BÀI VIẾT MỚI NHẤT

>